Giỏ hàng có 0 sản phẩm

Dấu hiệu trẻ sơ sinh thiếu vitamin D và cách bổ sung đúng chuẩn WHO

Vitamin D là vi chất đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành cấu trúc xương thông qua cơ chế phân phối canxi và phốt pho. Vitamin D làm tăng cường khả năng hấp thu canxi và phốt pho thông qua qua đường tiêu hóa. Tại xương, vitamin D kết hợp với hormon cận giáp sẽ kích thích chuyển hoá canxi và phốt pho, làm tăng quá trình lắng đọng canxi của xương. Bổ sung đầy đủ vitamin D là điều kiện thiết yếu để canxi và phốt pho được gắn trong mô xương.

Trẻ thiếu D sẽ dẫn đến hậu quả gì?

Thiếu hụt vitamin D trầm trọng gây ra còi xương ở trẻ sơ sinh và trẻ em, và loãng xương ở người lớn, được đặc trưng bởi tổ chức hữu cơ của xương không được khoáng hoá. Các nghiên cứu trên trẻ em Đông Nam Á và thanh thiếu niên ở Châu Phi, Châu Mỹ cho thấy chế độ ăn nghèo canxi sẽ làm tăng dị hóa vitamin D, thiếu vitamin D và còi xương. Những năm gần đây, thiếu vitamin D được quan tâm nhiều ở châu Á do tỷ lệ còi xương và loãng xương tăng ở nhiều quốc gia. Còi xương và loãng xương là hiện tượng phổ biến ngay cả ở những nước có nhiều ánh nắng mặt trời như Hồng Kông, Malayxia, Indonexia…

Vitamin D cũng đóng vai trò trong quá trình phân chia tế bào, bài tiết và chuyển hoá các hormone, cụ thể là hormone tuyến cận giáp và insulin. Thiếu hụt vitamin D sẽ dẫn đến sự biệt hoá một số tế bào ung thư như ung thư da, xương, và các tế bào ung thư vú, các công trình nghiên cứu khoa học đã chỉ ra sự thiếu hụt vitamin D liên quan đến giảm nguy cơ phát triển ung thư vú, đại tràng và tuyến tiền liệt.

Tỷ lệ thiếu (được định nghĩa là 25OHD<50 nmol/L) và không đủ vitamin D (được định nghĩa là 25OHD <75 nmol/L) đã được báo cáo trong các nghiên cứu ở Việt Nam. Điều tra ở thành phố Hồ Chí Minh trên 205 nam giới trưởng thành và 432 phụ nữ đã cho thấy tỷ lệ không đủ vitamin D ở nam là 20%, thấp hơn có ý nghĩa so với phụ nữ là 46%. Kết quả điều tra vi chất ở 19 tỉnh của Việt Nam năm 2010 cho thấy, khẩu phần vitamin D hàng ngày chỉ cung cấp 8,0% nhu cầu khuyến nghị của phụ nữ và 10,6 % nhu cầu khuyến nghị cho trẻ em 1-3 tuổi. Tỷ lệ thiếu vitamin D là 59,3% phụ nữ ở thành thị, 56,2 % phụ nữ nông thôn, 62,1% trẻ em ở thành thị và 53,7% trẻ em nông thôn.

Các dấu hiệu nhận biết

1. Dấu hiệu lâm sàng

Những dấu hiệu về biến đổi xương có thể xuất hiện sau vài tháng thiếu vitamin D. Con của những bà mẹ bị mềm xương có thể bị còi xương trong vòng 2 tháng sau khi sinh.

Dấu hiệu sớm: Các dấu hiệu của hệ thần kinh.

- Trẻ hay quấy khóc, khó ngủ, ngủ không yên giấc, ngủ hay giật mình do thần kinh bị kích thích.
- Ra nhiều mồ hôi về ban đêm, ngay cả khi trời lạnh (mồ hôi trộm).
- Trẻ bị rụng tóc ở vùng gáy (dấu hiệu chiếu liếm).
- Trẻ thường chậm phát triển thể lực, trương lực cơ giảm (cơ nhẽo), da xanh, lách to.

Dấu hiệu muộn: Các dấu hiệu ở xương. Các biểu hiện rối loạn ở xương có thể xuất hiện ở những xương khác nhau, tuỳ theo tuổi của trẻ và mức độ nặng nhẹ của bệnh.

- Chậm mọc răng và răng mọc không cân đối, chậm biết lẫy, bò, đi...
- Thóp rộng, bờ thóp mềm, lâu liền thóp.
- Biến dạng hộp sọ, xương sọ mềm, ấn lõm, trở lại bình thường khi nhấc tay ra (dấu hiệu quả bóng bàn), đầu bẹt.
- Bướu xương sọ, thường ở vùng trán, vùng đỉnh.
- Đầu xương cổ tay to, phì đại thành "vòng cổ tay".
- Chuỗi xương sườn và biến dạng lồng ngực, chân vòng kiềng, cong vẹo cột sống.
- Có thể bị co giật do hạ canxi máu.

Còi xương là bệnh tiên phát ở trẻ nhỏ sẽ nhìn thấy cẳng chân bị biến dạng và chậm phát triển thể lực. Biến dạng xương ở thời kỳ thơ ấu có thể để lại di chứng cho thời kỳ trưởng thành, xương sống có thể bị gù, vẹo, hẹp khung chậu.

2. Dấu hiệu cận lâm sàng

Chẩn đoán xác định tình trạng thiếu vitamin D dựa vào lâm sàng và một số xét nghiệm cơ bản.

Chụp X quang xương đánh giá sự cốt hoá của các xương rất có ý nghĩa chẩn đoán còi xương ở trẻ em. Trẻ còi xương thường cốt hoá chậm, đầu xương to, bờ cốt hoá nham nhở không đều. Thân xương giảm đậm độ xương.

Xét nghiệm sinh hoá: Nồng độ phốt pho giảm trong còi xương: 1,5-3,5 mg/dL (bình thường: 4,5-6,5 mg/dL).

Chỉ số tin cậy nhất là 25(OH) D huyết thanh. Đánh giá tình trạng thiếu vitamin D và mức độ thiếu vitamin D dựa vào hàm lượng 25(OH) D huyết thanh:

Dấu hiệu chứng tỏ trẻ sơ sinh bị thiếu vitamin D

Chỉ số đặc hiệu khác: 1,25(OH) D huyết thanh. Bình thường: 48-100 pmol/L.

Men phosphatase kiềm tăng khi còi xương: > 500 IU/dL (bình thường 500 IU/dL)

Những trẻ dễ bị thiếu D nhất

Trẻ đẻ non, trẻ có cân nặng sơ sinh thấp (dưới 2.500g), trẻ không được tiếp xúc đầy đủ với ánh nắng mặt trời (đặc biệt là trong những tháng mùa đông) và trẻ không được bú mẹ, hoặc trẻ bú mẹ hoàn toàn nhưng nguồn vitamin D trong sữa mẹ thấp do mẹ ít tiếp xúc với ánh nắng, bà mẹ có tình trạng thiếu hụt vitamin D nặng trong thời gian mang thai.

Trẻ ăn sữa ngoài, ăn bột sớm, ăn bột nhiều (gây ức chế hấp thu canxi) hoặc chế độ ăn thiếu canxi, phốt pho, vitamin và chất khoáng khác. Trẻ em có chế độ ăn chủ yếu dựa vào rau và các loại hạt, không sử dụng sữa hoặc các thực phẩm có bổ sung vitamin D. Trẻ mắc các bệnh nhiễm khuẩn (nhiễm khuẩn hô hấp, sởi, rối loạn tiêu hoá kéo dài…).

Phụ nữ mang thai và đang cho con bú, trẻ ít tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời.

Một số yếu tố địa lý khí hậu, mùa đông, vùng núi cao có nhiều sương mù, nhà ở chật chội, ô nhiễm môi trường, trẻ sinh vào mùa đông mặc quá nhiều quần áo, không được đưa ra ngoài trời tắm nắng … làm tăng nguy cơ thiếu vitamin D.

Cách phòng ngừa thiếu vitamin D và bệnh còi xương

Khẩu phần ăn đa dạng (đủ 4 nhóm), sử dụng thực phẩm giàu vitamin D như cá, trứng (lòng đỏ trứng), gan, dầu cá… Lựa chọn các thực phẩm bổ sung vitamin D như sữa, vitamin tổng hợp cho trẻ em, bột mì, bánh qui, margarin, dầu ăn, ngũ cốc…

Thường xuyên ăn các thực phẩm giàu canxi như tôm, cua, cá, sữa, và các sản phẩm từ sữa như sữa chua, bánh flan, phomat… Cần chú ý canxi trong sữa dễ hấp thụ hơn canxi từ các nguồn thực phẩm khác; cá nhỏ nguyên xương, tôm tép nguyên vỏ mới chứa nhiều canxi.

Trong mỗi bữa ăn cần có đủ dầu, mỡ để tăng hấp thu vitamin D. Ngoài ra chế độ ăn cần có đủ chất đạm, vitamin và khoáng chất (magie, kẽm, tỷ lệ canxi/phốt pho cân đối…)

Đối với mẹ mang thai và cho con bú

Bà mẹ có thai và cho con bú nên tắm nắng (hàng ngày, để lộ chân, tay tiếp xúc ánh nắng mặt trời 15-20 phút vào trước 8 giờ sáng hoặc 4-5 giờ chiều) đồng thời ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, vào những tháng cuối thai kỳ nên dùng thức ăn có nhiều canxi, vitamin D, phốt pho và uống bổ sung vitamin D liều dự phòng theo chỉ định của thầy thuốc.

Đối với trẻ em

Trẻ cần được bú mẹ hoàn toàn đến 6 tháng tuổi. Bữa ăn của trẻ cần đầy đủ, cân đối, phù hợp với nhu cầu của từng lứa tuổi, đặc biệt lưu ý trẻ sinh non, sinh đôi, suy dinh dưỡng…

Cho trẻ tắm nắng thường xuyên sẽ đảm bảo cung cấp 90-95% vitamin D cho cơ thể. Khi tắm nắng mẹ cần cho bé đội mũ, đeo kính râm để tránh ánh nắng chiếu trực tiếp vào đầu. Tuyệt đối không sử dụng các loại kem để bôi vào da trong thời gian tắm nắng. Cho trẻ tắm nắng hàng ngày ngay từ tháng đầu sau đẻ, để lộ chân, tay, lưng, bụng, ngực cho da tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Thời gian tắm nắng trong khoảng 15-20 phút vào buổi sáng trước 8 giờ hoặc 4-5 giờ chiều.

Trẻ từ 0-18 tháng tuổi có bú mẹ hoặc uống sữa công thức, nếu uống ít hơn 1000 ml sữa có bổ sung vitmin D/ngày thì cần bổ sung vitamin D cho trẻ sơ sinh theo hàm lượng 400IU/ngày.

Trẻ từ 18-60 tháng tuổi chỉ sử dụng liều trên trong điều kiện thời tiết sương mù, ít ánh nắng hoặc khôn được tắm năng thường xuyên.

Trẻ đẻ non, đẻ thiếu cân, đẻ sinh đôi, trẻ có làn da sẫm mầu, từ tuần thứ hai sau đẻ: cân nhắc uống bổ sung vitamin D 400-800IU/ngày liên tục trong 15 tháng đầu tiên

Nếu trẻ không thường xuyên được chăm sóc chu đáo thì nên dùng liều cao cách nhau một thời gian. Từ 06-18 tháng tuổi: Cứ mỗi 6 tháng cho uống 1 liều 200.000IU vitamin D. Trẻ từ 18-60 tháng dùng liều duy nhất vào đầu mỗi mùa đông trong năm.

Trẻ em và vị thành niên không thường xuyên tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, uống <500 ml sữa có bổ sung vitamin D hoặc không uống bổ sung đa vi chất có chứa ít nhất 200IU vitamin D/ ngày, nên bổ sung vitamin D 400IU/ngày.

Bà mẹ có thai hoặc cho con bú, nếu khẩu phần ăn không đủ vitamin D hoặc thiếu tiếp xúc với ánh nắng mặt trời: uống bổ sung thêm vitamin D với liều 400-600 IU/ngày. Hoặc dùng liều 1.000-1.200 IU/ngày trong 3 tháng cuối của thời kỳ có thai. Hoặc dùng liều duy nhất 200.000IU vào tháng thứ 7 nếu không có điều kiện tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.

47417 lượt xem